Nhân vật Bá Kiến

Bá Kiến ngoài đời

Với nhà văn Nam Cao, bên cạnh tiểu thuyết “Sống mòn” mang tính tự truyện, ông còn rất nhiều truyện ngắn được xây dựng nhân vật từ những mẫu người thật ngoài đời. Có những nhân vật hầu như ông sao chụp nguyên xi, gia giảm, thêm bớt không đáng kể. Bá Kiến là một nhân vật như thế.

Con người có thực ngoài đời được Nam Cao lấy nguyên mẫu để xây dựng nên nhân vật Bá Kiến có tên là Trần Duy Bính. Người làng Đại Hoàng vẫn gọi là Nghị Bính, vì ông ta thuộc hàng chức sắc không những ở Đại Hoàng mà cả tổng Nam Sang đều biết tiếng. Gia tộc Nghị Bính trước đó đã có năm đời làm lý trưởng. Đến đời Trần Duy Bính, tuy con nhà “dòng dõi” nhưng Bính vẫn phải mua chức phó lý rồi mới lên được lý trưởng. Nghị Bính rất được lòng quan trên, nhờ thế mà ông ta đã nhoi lên được tới chức chánh tổng Cao Đà, thành nghị viên Bắc Kỳ, từng được nhà vua triệu vào kinh đô Huế dự lễ tế đàn Nam Giao. Nghị Bính đi đâu thường cưỡi một con ngựa màu nâu thẫm, có người cắp tráp theo hầu.

Ngôi nhà Nghị Bính ở làng Đại Hoàng rất bề thế. Nhà toàn tòng bằng gỗ lim, thượng bò hạ kẻ, bàn thờ có lư hương, đỉnh nến, hạc chầu. Nghị Bính vời một đồ nho nổi tiếng hay chữ khắp vùng tên là Hùng Sơn đến nhà lập đôi câu đối, tạc vào gỗ vàng tâm treo hai bên cột cạnh bàn thờ. Chỉ đọc lên, chưa cần giải nghĩa, thì cái âm thanh của đôi câu đối đã tỏ rõ cái uy, cái sang của quyền biến, thế phiệt: Thập lý vân lôi thiên bất hạn Cửu trùng vũ lộ địa do dư Nghĩa là: Mười dặm sấm mây trời không hạn Chín trùng mưa móc đất còn dư.

Nghị Bính đến công đường làm việc thì áo the khăn sếp, giày Gia Định, ô lục soạn; về làng thì mặc bộ đồ sa tanh màu mỡ gà, thường hay la cà ở quán xá chơi tổ tôm, xóc đĩa. Quyền bính khuynh loát, nhưng mỗi lần bắt gặp ông giáo nghèo Trần Hữu Tri (tức nhà văn Nam cao) bao giờ Nghị Bính cũng cất lời chào trước.

Nghị Bính có năm vợ, mười hai con. Ba trai, chín gái. Bà cả, người làng không nhớ tên, thường gọi bà Nghị cả, tính tình chân thật, hiền hòa nên được ông Nghị giao cho quản lý tiền nong. Bà cả chỉ có một con trai tên là Trần Duy Tảo. Bà hai tên là Trần Thị Khuyến. Bà này được ông Nghị cưới làm vợ hai trong lúc bà cả bị ốm nặng, tưởng không qua khỏi. Bà hai sinh được bốn người con là Trần Thị Quế, Trần Duy Hòe (ông này nhà văn Nam Cao lấy làm mẫu xây dựng nhân vật Lý Cường, con trai Bá Kiến), Trần Thị Trinh, Trần Thị Nhài. Bà ba là Trần Thị Yêm. Bà Yêm con nhà quyền quý, xinh đẹp, khi lấy Nghị Bính bà mang theo về khá nhiều của hồi môn, lại biết chiều chồng nên rất được ông Nghị sủng ái, cho dù bà này chỉ sinh cho ông có ba mụn con gái, tên là Trần Thị Dung, Trần Thị Yến, Trần Thị Xuyến. Bà tư, dân làng cũng không nhớ tên tục, thường chỉ gọi là bà Tư Nghị, cũng sinh hạ ba người con gái là Trần Thị Sen, Trần Thị Cúc, Trần Thị Hồng. Bà năm tên là Trạch, quê Thái Bình (bốn bà trước đều cùng quê làng Đại Hoàng với Nghị Bính, mà làng này ngày đó hầu như cả làng mang họ Trần). Bà Trạch làm nghề buôn bán. Nghị Bính làm quen với bà trong một chuyến đi kinh lý, rồi cưới làm vợ nhưng không cho ai ở làng biết. Bà Trạch có với Nghị Bính một đứa con trai. Đứa con trai lớn lên, lấy vợ, sinh con, khi ấy Nghị Bính mới đưa “một góc gia đình” này về quê ra mắt bốn bà vợ trước và họ hàng. Giàu có vào hạng nhất làng, Nghị Bính lo cho mỗi bà vợ một dinh cơ riêng. Nghị Bính ở với bà ba, nhưng chuyện phòng the, chăn gối với các bà kia đều được ông ta lên lịch, không muốn để bà nào quá thiệt thòi. Các bà cũng tỏ ra “biết điều” lắm, hôm nào đến phiên mình tiếp chồng, bà đó đều tắm rửa sạch sẽ, chuẩn bị mấy quả trứng gà để chồng tẩm bổ, lấy sức phục vụ. Tuy ông Nghị không để lỡ, để sót bà nào, nhưng vì sức ông phục vụ năm bà có vẻ hơi quá tải nên đôi khi các bà cũng có cách đi ngang về tắt, mà chủ yếu dan díu với đám canh điền. Nhờ có của nả, lại muốn an nhàn nên bà nào cũng nuôi canh điền khỏe mạnh trong nhà. Phần lớn những chuyện dan díu của các bà đều kín như bưng, nhưng cũng có lúc bại lộ. Chẳng hạn cái vụ bà ba dan díu với một anh canh điền đã bị một người hầu để ý, mặc dù bà ba đã rất khôn khéo bịt được miệng anh ta, nhưng sau này vẫn có chỗ hở, dân làng xì xào.

Nam Cao chộp luôn tình tiết đó dựng nên trường đoạn Chí Phèo bóp chân cho vợ ba Bá Kiến trong tác phẩm. Nghị Bính thâm hiểm, lộng hành và trụy lạc, không được lòng dân nên đã có người sáng tác một bài vè về ông ta, còn truyền tụng đến ngày nay:

Nam Sang nhất tổng Cao Đà

Có ngài Bá Nghị gọi là “sọc nhăng”

Ông mà lại hóa ra thằng

Khôn ngoan nhất mực nói năng ai tày

Sáu đời lý trưởng trong tay

Bao chiếm điền thổ xưa nay hỗn hào

và:

Thuế tháng năm nhà nghèo bần khổ

Mày lại còn lạm bổ lạm thu

Mang về xây dựng cơ đồ

Lắng tai tao sẽ bảo cho ân cần

Hay gì cái của phù vân

Nó vào cửa trước nó lần cửa sau

Của phi nghĩa chẳng bền đâu

Ở cho ngay thật ngày sau mới còn…

Cái đận truyện ngắn “Đôi lứa xứng đôi” (sau đổi tên là “Chí Phèo”) ra đời đã trở thành một “sự kiện nóng” trong làng Đại Hoàng. Thực ra, khi viết truyện này Nam Cao còn trẻ, ông cứ viết phóng sinh phóng địa theo nguồn cảm hứng và chất liệu thực tế ngồn ngộn tuôn trào, chứ ông không tin truyện sẽ được in. Nhân vật Bá Kiến dưới ngòi bút của ông hiện nguyên hình nguyên dạng là kẻ quyền cao chức trọng nhất làng: Nghị Bính. Một phó lý muốn tâng công nịnh thần cấp trên đến ghé vào tai Nghị Bính: “Thưa cụ lớn, con đọc cái truyện ngắn “Đôi lứa xứng đôi” do ông giáo Trần Hữu Tri viết thì thấy ông ta chửi cả làng ta, mà người bị chửi nhiều nhất chính là… là… cụ lớn đấy ạ”. Phó lý vừa xun xoe vừa đưa tờ báo cho Nghị Bính. Nghị Bính ngoắc kính lên, đọc xong liền đập bàn một cái, mắt trợn ngược, nghiến răng kèn kẹt, chửi: “Tiên sư cái đồ dở ông dở thằng! Ta đây không thèm nói với cái loại này cho bẩn mồm! Ta sẽ ném đi vài mẫu ruộng là đủ cho nó rũ tù!”. Nghị Bính nói là làm. Y chuẩn bị khá chu đáo để đưa Nam Cao vào vòng lao lý. Ông phó Huệ, phụ thân của nhà văn đã phải nhắn lên phủ, nơi Nam Cao đang trú ngụ dạy học, rằng hãy tìm nơi chốn nào thật xa xôi hẻo lánh mà ẩn náu, rằng tránh voi chẳng xấu mặt nào…

Nhưng thật may cho Nam Cao, đúng lúc ấy huyện Nam Sang thay tri huyện mới. Một hôm, Nghị Bính và đám sai nha lên huyện xin thỉnh thị gì đó. Nghị Bính chưa kịp thưa gửi gì thì quan tân tri huyện đã nói: – Các chư vị từ làng Đại Hoàng lên đấy phải không? Tôi có người bạn học tên là Trần Hữu Tri, hiện làm nghề dạy học, các chư vị về gặp cho tôi gửi lời thăm… Nghe đến đó, trong con người Nghị Bính đang sôi sục tâm địa trả thù nhà văn bỗng hạ nhiệt. Y đành phải dạ dạ vâng vâng để lấy lòng bề trên. Nam Cao thoát vòng lao lý là vì thế